Từng được coi là một trong những phương tiện giao thông phổ biến nhất của miền Tây Nam bộ trước kia, tuy nhiên hiện nay xe lôi (hay còn gọi là xe đạp kéo) đã dần trở thành dĩ vãng bởi sự phát triển quá nhanh của những phương tiện giao thông hiện đại khác. Và đó cũng chính là lý do mà những người vẫn một lòng gắn bó với chiếc xe lôi đơn sơ này cảm thấy khó khăn, thấy gánh nặng nhọc nhằn của cuộc sống ngày một đè nặng lên đôi vai họ trong những vòng xe quay đều, quay đều…
Những chiếc xe lôi quen thuộc một thời Vui, buồn bên những vòng xe Được coi là thủ phủ cuối cùng của những chiếc xe lôi quen thuộc, vùng Châu Đốc (An Giang) hiện nay vẫn còn khá nhiều người sinh sống bằng nghề kéo xe lôi với số lượng lên đến hàng trăm chiếc. Những chiếc xe họ dùng để mưu sinh hiện nay có cấu tạo đơn giản, chỉ là một chiếc xe đạp thông thường có gắn thêm chiếc ghế ngồi đằng sau với 2 chiếc bánh xe nữa, giống như cách đây chừng nửa thế kỷ vậy. Khách hàng của những chiếc xe lôi này là những người đi chợ, những người đi làm, người du lịch, học sinh, thậm chí là chở cả đồ vật nữa. Ngồi ngay bên lề đường Lê Lợi, đoạn gần với bến phà Châu Giang (TP Châu Đốc), bác Nguyễn Văn Thoại (66 tuổi) tâm sự: Tôi làm nghề kéo xe lôi này đã gần 50 năm, từ khi còn là một cậu thanh niên theo ông ngoại đạp xe chở cá từ dưới Bình Tiên về đây. Trước kia, xe lôi cũng gần như xích lô, mình phải dùng sức kéo nên rất vất vả. Tuy nhiên, sau này xe lôi được cải tiến, gắn vào chiếc xe đạp nên chỉ dùng sức để đạp mà kéo thôi. Sau ngần ấy thời gian gắn bó với xe lôi, tôi thấy đây là phương tiện di chuyển an toàn và đảm bảo nhất. Kể về cuộc sống hiện nay, ông lão có nụ cười khá thân thiện và gương mặt in hằn những vất vả của cuộc mưu sinh chậm rãi tiếp lời. Nhà tôi ở bên Phú Vĩnh, ngay gần bờ kênh Vĩnh An, phía bên kia sông Hậu này. Hàng ngày, tôi đi phà qua bên này đợi khách. Thường là mấy người đi chợ, đi buôn, học sinh, người du lịch hay ai có công việc gì nhờ chở đi. Mỗi chuyến tiền công chỉ khoảng 10 hoặc 15 ngàn, nếu chở nặng quá hoặc đi xa thì tôi mới lấy 20 chục ngàn. Nếu may mắn, một ngày tôi cũng kiếm được năm sáu chục ngàn, một thu nhập cũng có thể nói là tạm ổn. Cả đời mưu sinh bằng chiếc xe lôi này, tuy có vất vả, cơ cực nhưng nếu không có nó tôi cũng chưa biết mình phải sống ra sao, làm gì để nuôi 5 đứa con khôn lớn nên người.
Đang nói chuyện thì có chiếc xe lôi dừng lại, một anh chạc tuổi gần 40 nhảy từ trên xe xuống, mồ hôi ướt đầm lưng áo, dù thời tiết hiện nay khá mát mẻ. Vừa quệt vội cánh tay lên mặt, anh ta vừa nói chuyện với bác Thoại. Mới nhận chở hai vợ chồng nhà kia lên Núi Sam về. Họ từ trên Sài Gòn xuống đây du lịch, bảo chỉ thích đi xe lôi. Mặc dù kéo cả 2 người với lỉnh kỉnh đồ đạc khá nặng nhưng được cái họ trả rất hậu hĩnh, những bốn chục ngàn đồng. Sau một hồi trò chuyện, chúng tôi biết đó là anh Khải, nhà ở dưới Vĩnh Thạnh Trung (huyện Châu Phú) nhưng ngày nào cũng lên đây kéo xe lôi. Anh Khải bảo, anh mới làm nghề kéo xe lôi được hơn chục năm nay. Có thể, anh chỉ kéo khoảng dăm năm nữa rồi về nghỉ, chăn nuôi cá, ếch ở ao nhà chứ không đi nghề này nữa bởi các con anh sắp trưởng thành rồi. Đứa con gái lớn đã lên Long Xuyên làm công nhân được nửa năm, cũng bắt đầu có tiền dành dụm gửi về cho cha mẹ. Bây giờ, cả nhà chỉ tập trung nuôi cậu con trai út đang học đại học trên Sài Gòn. Khi nào con trai ra trường và đi làm, anh sẽ bỏ nghề kéo xe lôi. Vừa nói, anh Khải vừa nhìn ra dòng sông Hậu đang cuồn cuộn đầu con nước lũ, ngậm ngùi. Mà có khi sắp tới, như ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho người ta cấm chạy xe lôi trước khi thằng con tốt nghiệp ra trường thì tôi chẳng biết lấy gì nuôi nó nữa. Nghe giọng anh, bất giác chúng tôi nhìn chiếc xe lôi cũ kỹ, cái lốp mòn vẹt, cái khung trơ sắt gỉ, cái ghế gỗ đằng sau đã bạc màu mà lòng cảm thấy buồn. Mặc dù nhìn qua những chiếc xe lôi này có vẻ thua kém những loại hình giao thông khác như xe buýt, xe thồ hay thậm chí taxi về nhiều mặt, nhất là tốc độ di chuyển nhưng thực tế, với những người dân vùng Châu Đốc này, thói quen đi xe lôi đã thành một nét văn hóa, một sở thích riêng mà các phương tiện khác không có được. Lý giải về điều này, bà Tư - một người buôn bán cá khô, mắm tép ở chợ dưới chân Núi Sam cho biết. Từ hơn 40 năm nay, ngày nào tôi cũng đi xe lôi. Sáng sớm đi từ nhà tới đây, chiều lại đi về. Mỗi ngày tổng cộng hết có 12 ngàn đồng với quãng đường di chuyển là 10 cây số. Khi được hỏi, tại sao bà không mua một chiếc xe máy để đi hay cho con cháu chở đi thì bà Tư cười bảo: Không hiểu sao, tôi rất sợ những chiếc xe có máy nổ. Từ ô-tô, xe hon đa cho tới tàu hỏa tôi đều sợ, không dám ngồi lên. Vì thế, có đi đâu tôi cũng chỉ đi xe lôi mà thôi. Với lại, xe lôi đi từ từ, đỡ chóng mặt mà nếu có chẳng may xảy ra tai nạn, chỉ té chút xíu chứ không bị nặng như những xe khác. Bác Tám chạy xe lôi ở Trảng Bàng Những chiếc xe cuối cùng Với những ai đã từng sống, từng gắn bó với mảnh đất châu thổ miền Tây Nam bộ thì sẽ không lạ lẫm gì với hình ảnh những chiếc xe lôi này. Thậm chí, khoảng những năm 1990 cho tới 2000, thời gian được cho là hoàng kim của xe lôi thì những chiếc xe này còn xuất hiện cả ở Sài Gòn và Tây Ninh nữa. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, những phương tiện giao thông cũ kỹ, lạc hậu và thô sơ đang dần bị thay thế bằng những phương tiện khác hiện đại hơn. Đó là quy luật tất yếu. Vì thế, nhiều thành phố đã có lệnh cấm xe lôi hoạt động nên những chiếc xe thân thuộc này chỉ còn xuất hiện ở một số vùng nông thôn mà thôi. Mặc dù có cùng cấu tạo như nhau nhưng không như ở An Giang, ở Vĩnh Long và Trà Vinh, nhiều người gọi xe lôi là xe… vua. Một cái tên rất sang trọng và quyền quý. Nói về chuyện này, một người kéo xe lôi ở thị trấn Long Hồ cho biết: Trước kia, khoảng những năm trước giải phóng, có được chiếc xe lôi là rất khó khăn, vì thế phải ở thành phố lớn mới có người chạy xe lôi. Và khách hàng đi xe lôi cũng chỉ là những tầng lớp quý tộc nên người dân mới gọi xe lôi là xe vua, bởi nó cao sang và quý hiếm. Sau này, thời gian thay đổi, xe lôi ngày càng đánh mất vị thế và giá trị của nó trong cuộc sống hiện đại, khiến người ta dần dần lãng quên. Giờ, hầu hết những người làm nghề xe lôi ở miền Tây là những người nghèo, người già. Nó vừa là sinh kế, vừa là niềm hoài niệm nhớ nhung một thời vàng son đã qua. Thực tế ở miền Tây hiện nay, xe lôi vẫn còn nhưng chỉ là rải rác ở một số nơi. Châu Đốc chính là đô thị hiếm hoi có số lượng xe lôi nhiều, bởi phần lớn nơi khác dù chính quyền không cấm thì bản thân những chiếc xe lôi cũng tự nhiên biến mất, do không cạnh tranh nổi với các phương tiện giao thông khác, như ở thành phố Bến Tre (tỉnh Bến Tre) chẳng hạn, mới chục năm trước, hầu như ngã ba, ngã tư nào ở thành phố nhỏ bé bên dòng Hàm Luông này cũng có vài chiếc xe lôi đậu bên đường đợi khách, thì nay, chỉ còn khoảng 3 đến 5 chiếc chạy ở cổng bệnh viện thành phố mà thôi. Nhiệm vụ của xe lôi hiện nay đã được những xe ôm, xe ba gác đảm trách một cách thuần thục và tốt hơn rất nhiều, bởi người ta không thể mãi đi xe lôi bằng niềm hoài niệm được. Trong những ngày tìm hiểu về cuộc sống của những người chạy xe lôi, chúng tôi chợt nhớ lời bác Tám, 1 trong 2 người chạy xe lôi cuối cùng ở Tây Ninh. Bác Tám cho biết, bác chạy xe lôi ở cổng chợ Trảng Bàng (Tây Ninh) từ trước giải phóng. Nhờ chiếc xe này, bác đã nuôi cả gia đình nên bây giờ dù rất ít khách đi xe lôi thì ngày nào bác cũng chạy xe ra cổng chợ Trảng Bàng đón khách. Bác bảo, con cái giờ chúng nó lớn, cuộc sống cũng khá giả, bảo ba ở nhà nghỉ cho khỏe nhưng tôi không chịu. Thú thực, cả đời mình chạy xe lôi, bây giờ cất nó ở nhà thấy tội. Thương xe thì ít, thương mình thì nhiều. Có lẽ, đó cũng chính là tâm trạng của nhiều người, những người chạy xe lôi cuối cùng ở vùng châu thổ hiện nay. Họ, một phần vì cuộc sống mưu sinh, một phần vì cảm thấy tiếc nhớ những vòng xe lôi quen thuộc nên vẫn ngày ngày rong ruổi khắp những con đường. ĐOÀN ĐẠI TRÍ |
Categories: Pháp luật